|
Lịch
sử phát triển:
Gắn liền với lịch sử thành lập bệnh viện Việt Đức, khoa cấp cứu tiêu hoá
là một trong những khoa đầu tiên của bệnh viện được thành lập.
Ngày 27/10/1954: Đoàn bác sĩ do Bs Tôn Thất Tùng dẫn đầu về tiếp quản
bệnh viện. Phòng 7-8 do bác sĩ Phạm Văn Phúc phụ trách. Sau đó là Bác sĩ
Nguyễn Bửu Triều.
Với 48 giường bệnh, khoa đã điều trị phẫu thuật và hậu phẫu nhiều loại
bệnh thuộc đường tiêu hoá và ổ bụng như (chảy máu do loét dạ dày tá
tràng, hẹp môn vị, tắc ruột, ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng, ung
thư gan, tuỵ, các loại u bụng, bệnh nhân sỏi mật, viêm tuỵ cấp, chảy máu
do tăng áp lực tĩnh mạch cửa...)
Áp dụng nội soi dạ dày chẩn đoán 8/1988
Áp dụng phẫu thuật nội soi ca đầu tiên 25/12/1993
Các chủ nhiệm khoa:
Gs Bửu Triều – Nhà giáo Nhân dân
GS Phạm Văn Phúc -(đã nghỉ hưu)
Gs Nguyễn Văn Đức-(đã nghỉ hưu)
Cố
Gs Nguyễn Thuyên
Cố
Gs Nguyễn Đức Ninh
Bs Nguyễn Gia Đồng -(đã nghỉ hưu)
Cố
PGs Tôn Thất Bách
PGS-Ts.Trần Bình Giang
Các phó chủ nhiệm khoa:
Ths. Nguyễn Đức Tiến
Các y tá trưởng khoa:
Phạm Thị Bắc
Lưu Đình Hồ
Nguyễn Thị Hồi
Quách Thị Oanh
Nguyễn Thuý Lộc
II.
Chức năng nhiệm vụ :
Khoa tham gia vào hệ thống cấp cứu chung của bệnh viện bao gồm các cấp
cứu ngoại khoa bệnh và chấn thương đường tiêu hoá, ổ bụng.
Khoa cấp cứu tiêu hoá tham gia vào công tác giảng dạy và đào tạo sinh
viên cũng như các bác sỹ chuyên khoa, bác sỹ nội trú, thạc sỹ và nghiên
cứu sinh trong và ngoài nước(Pháp, úc, Campuchia..).
Từ nhiều năm qua các bác sĩ trong khoa đã tiến hành nghiên cứu nhiều
công trình có ý nghĩa thực tiễn áp dụng để nâng cao chất lượng điều trị
bệnh nhân.
Chỉ đạo chuyên khoa: thường xuyên có các bác sĩ tới các bệnh viên khác
giúp đỡ về kỹ thuật ngoại khoa .
Hợp tác quốc tế nhằm nâng cao chất lượng điều trị và nghiên cứu khoa
học.
Quản lý vật tư, trang thiết bị nằm trong khoa, quản lý nhân sự của khoa.
III. Tổ
chức nhân sự :

IV. Hoạt
động chuyên môn:
Cơ sở vật chất:
48 giường bệnh: 28 giường nam, 20 giường nữ
Các phương tiện cấp cứu cơ
bản :
Khoa đã tiến hành áp dụng các kỹ thuật hiện đại trong chẩn đoán và điều
trị bệnh như: Siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, nội soi dạ dày đại tràng.
Sử dụng hiệu quả các thiết bị mổ nội soi. Máy nội soi đường mật trong mổ
kết hợp với tán sỏi.
Về chuyên môn:
Thực hiện các ca mổ phiên theo lịch trong tuần
Điều trị những bệnh nhân cấp cứu được nhận vào khoa.
Về nghiên cứu:
Thực hiện các công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực cấp cứu tiêu hoá,
phẫu thuật nội soi.
Thành tựu đạt được:
Nhận huân chương lao động hạng III : tháng 3 năm 1973.
Phòng đã đạt danh hiệu tổ lao dộng xã hội chủ nghĩa trong nhiều năm
liền: 1979; 1980; 1981; 1984; 1985.
Tập thể lao động xuất sắc năm 1999, 2000.
Trong hoạt động chuyên môn:
Nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng kỹ thuật cắt gan theo phương pháp Tôn
Thất Tùng.
Nghiên cứu phát triển điều trị dự phòng biến chứng tăng áp lực tĩnh mạch
cửa.
Tổng kết phẫu thuật trong năm 2000 : phòng đã điều trị 2023 bệnh nhân
gồm các phẫu thuật cấp cứu và phẫu thuật mổ phiên về : dạ dày, gan mật,
tuỵ, ruột non đại tràng.vv..
V.
Hướng phát triển:
Do nhu cầu phát triển điều trị về số lượng và chất lượng, bệnh viện sẽ
xây dựng và mở rộng khoa thành 50 giừơng trong đó có 5 giường trang bị
hiện đại, có hệ thống khí Y tế đến tận giường.
Phát triển phẫu thuật mổ nội soi trong cấp cứu và các bệnh thuộc ổ bụng
như : gan, lách, u tuyến thượng thận, u xơ tử cung, u nang buồng trứng.
Phát triển phẫu thuật điều trị viêm tuỵ hoại tử.
Điều trị phẫu thuật bảo tồn lách trong chấn thương.
Nghiên cứu ứng dụng phương pháp chọc rửa ổ bụng trong chẩn đoán chấn
thương bụng.
Áp dụng kỹ thuật nội soi và tán sỏi mật trong mổ.
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế.
|