|
I. Lịch sử
phát triển:
Năm 1958 lần đầu tiên mổ bệnh tim là hẹp van hai lá do BS Tôn Thất Tùng
nhưng lúc đó chưa có một khoa mà chỉ lẻ tẻ vài bệnh nhân nằm lẫn với
những bệnh khác. Cuối năm 1959, một đoàn chuyên gia Liên xô (Gs Libov)
sang Hà nội giúp mổ tim, lúc đó mới tập trung nhiều bệnh nhân và hình
thành khoa mổ tim. Tuy nhiên vẫn còn nhiều loại bệnh nhân khác cùng nằm:
thực quản, phổi, cắt gan. Không có quyết định thành lập Khoa phẫu thuật
tim mạch mà chỉ gọi dưới cái tên khoa (phòng) 1B mà mọi người đều hiểu
đó là khoa mổ tim.
Lúc đầu chỉ mổ tim kín, phải
đến năm 1964 mới mổ tim hở dưới ngừng tuần hoàn tạm thời ở nhiệt độ 32
0C.
Năm 1965 bắt đầu mổ tim hở với máy tim phổi do Trung Quốc tặng.
Chủ nhiệm khoa:
GS. Nguyễn Dương Quang (1954 – 1962)
PGS. Nguyễn Xuân Ty (1962 – 1995)
GS. Đặng Hanh Đệ (1995 -2004)
PGS-TS. Lê Ngọc Thành (2004 đến nay)
Phó Chủ nhiệm Khoa:
GS. Đặng Hanh Đệ (1980 – 1995)
ThS. Nguyễn Văn Mão (1998 -2003)
ThS. Lê Ngọc Thành (2000-2004)
TS.Nguyễn Hữu Ước (2003 đến nay)
Ths. Dương Đức Hùng (5/2008
đến nay)
Y tá trưởng:
Phạm Văn Đính (1954 – 1964)
Trần Trọng Nho (1965 – 1970)
Đào Thị Yêm (1970 – 1975)
Tạ Văn Hùng (1976 – 1979)
Hàn Thị Nang (1979 – 1995)
Đoàn Doãn Bích Vân (1995 đến nay)
II.
Chức năng nhiệm vụ :
1. Khám chữa bệnh:
Khám và điều trị phẫu thuật các bệnh tim mạch và lồng ngực : các bệnh
tim bẩm sinh, các bệnh tim mắc phải (van tim, mạch vành), các bệnh về
động mạch chủ và các động mạch ngoại biên, các bệnh khác về lồng ngực (u
phổi, u trung thất, bướu cổ...).
2. Đào tạo:
Nơi thực tập lâm sàng của các sinh viên y khoa, các đối tượng học viên
sau đại học như : chuyên khoa cấp I, cấp II, nội trú bệnh viện, cao học,
tiến sĩ,...
3. Nghiên cứu khoa học:
Thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp cơ sở về các
bệnh lý tim mạch, lồng ngực.
4. Chỉ đạo chuyên khoa:
- Tổ chức các lớp huấn luyện phẫu thuật mạch máu cấp cứu cho các phẫu
thuật viên ở các tỉnh phía Bắc.
- Giúp đỡ đào tạo, thành lập các trung tâm mổ tim kín và hở : Viện Quân
y 108, bệnh viện Xanh Pôn Hà nội, bệnh viện Việt Tiệp Hải phòng, bệnh
viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh, bệnh viện Trung ương Huế.
5. Hợp tác Quốc tế:
- Hợp tác về phẫu thuật tim đặc biệt tim hở với tổ chức T.C.V. Pháp
- Hợp tác với Hội ADVASE Pháp về phẫu thuật mạch máu : đào tạo tại Pháp
và tại Việt Nam thông qua các lớp tập huấn.
- Hợp tác với khoa phẫu thuật tim mạch tại bệnh viện St.Jacques,
Rangueil và nhiều bệnh viện tại Paris – Nước cộng hoà Pháp.
- Hội phẫu thuật tim tại Mỹ, Australia, Philipine, Singapore...
- Nhận một số sinh viên, y tá nước ngoài đến thực tập tại khoa.
- Phối hợp với Hội điều dưỡng Pháp huấn luyện nâng cao nghiệp vụ cho y
tá của khoa
III.
Tổ chức nhân sự :
Tổng số : 28 người (kể cả bác sỹ nhà trường)
Gồm có : 1 giáo sư, 1 tiến sỹ, 4 thạc sỹ
1 y tá trưởng, 16 y tá và 3 hộ lý.
IV.
Hoạt động chuyên môn:
1. Cơ sở vật chất:
Khoa có 2 tầng bao gồm 40 giường bệnh. Một phòng chăm sóc tăng cường sau
mổ máy tim phổi (6 giường).
Hai phòng mổ chuyên khoa cho mổ tim với 2 bộ máy tim phổi nhân tạo.
2. Thành tựu:
Hiện tại mỗi ngày mổ hai ca tim hở và khoảng 3 ca tim kín hoặc mạch máu.
- Về tim hở: Đã mổ phần lớn các bệnh tim bấm sinh ở trẻ trên 10 kg, các
bệnh van tim (thay van, tạo hình van), thủ thuật Bentall (thay van động
mạch chủ và động mạch chủ lớn), cầu nối chủ vành (có hay không có máy
tim phổi).
- Về mạch máu: Các loại phồng và hẹp động mạch chủ và động mạch ngoại
biên.
- Các phẫu thuật khác: U phổi, trung thất, bướu cổ , u máu ...
Đã nghiệm thu đề tài cấp Nhà nước KHCN 11.15 về “ ứng dụng những tiến bộ
về KHKT trong chẩn đoán và điều trị các bệnh tim mạch”.
Tham gia giúp đỡ mổ tim mạch cho các bệnh viện: Quân y 108, Quân y 103 ,
bệnh viện Xanh Pôn Hà nội, bệnh viện Việt Tiệp Hải phòng, bệnh viện Chợ
rẫy thành phố Hồ Chí Minh, bệnh viện Trung ương Huế.
V.
Hướng phát triển:
Tăng số mổ tim hở mỗi ngày khoảng 4 ca.
Hạ cân nặng của các bệnh bẩm sinh xuống 5 kg.
Nghiên cứu trong tương lai : ghép van tim đồng loại. |