|
I. Lịch sử phát triển:
- Năm 1957 do nhu cầu điều trị
bệnh nhân và được sự giúp đỡ của chuyên gia Hung-ga-ri (BS Komaromy
Laszlo), bệnh viện thành lập khoa phẫu thuật thần kinh (1A) do BS Nguyễn
Thường Xuân là trưởng khoa với 30 giường bệnh.
- Kính hiển vi được dùng lần
đầu tiên năm 1986 để nối động mạch trong-ngoài não thành công trong điều
trị nhồi máu não.
- Tiến bộ trong chẩn đoán hình
ảnh (CT Scanner, MRI, DSA) và trong điều trị ở những năm gần đây đã nâng
cao chất lượng, kết quả điều trị và trình độ phẫu thuật tương đương các
nước trong khu vực ASEAN.
- Quan hệ quốc tế từ những năm
1960 (Ru-ma-ni, Hung-ga-ri, Đức) đã giúp cho khoa có nhiều kinh nghiệm
trong mối quan hệ với các nước Pháp, Nhật, Mỹ, úc, các nước ASEAN.
- Khoa là trung tâm hoạt động
của Hội phẫu thuật thần kinh Việt Nam (thành lập năm 1995 do GS Nguyễn
Thường Xuân là Chủ tịch), là thành viên Hội phẫu thuật thần kinh châu á,
ASEAN và Hội phẫu thuật thần kinh thế giới.
- Bác sỹ Nguyễn Văn Điển đã hy
sinh tại chiến trường Miền Nam năm 1968 khi được cử đi tăng cường cho
chiến trường.
- Các thế hệ lãnh đạo của khoa
đã và đang đóng góp rất nhiều cho sự tồn tại và phát triển của khoa :
Trưởng khoa:
1957-1995 : GS. Nguyễn Thường Xuân
1995-1999 : GS. Dương Chạm Uyên
1999- 2002 : TS. Trần Thụy Lân
2003 :BSCKII: Lý Ngọc Liên
Phó trưởng khoa:
1957-1975 : GS. Lê Xuân Trung
1975-1995 : GS. Dương Chạm Uyên & TS. Trần Thụy Lân
1995-1999 : TS. Trần Thụy Lân
1999-2003 : BSCKII. Lý Ngọc Liên
1999 - : ThS. Lê Hồng Nhân
2004 - : ThS.Hà Kim Trung
Y tá trưởng:
1957-1972 : Y tá Nguyễn Thị Hồi
1972-1989 : Y tá Trần Thị Đông
1989 – nay : Y tá Vũ Đức Thành
II. Chức năng nhiệm vụ :
1. Khám chữa bệnh ngoại khoa
thần kinh trong chấn thương và bệnh lý sọ não, tuỷ sống, dây thần kinh
ngoại vi.
2. Đào tạo : tham gia giảng dạy học sinh sơ & trung cấp y, cử nhân điều
dưỡng, sinh viên y khoa, bác sĩ đa khoa, chuyên khoa sau đại học : thạc
sĩ, tiến sĩ.
3. Nghiên cứu khoa học.
4. Chỉ đạo chuyên khoa thông qua các lớp học ngắn hạn, dài hạn.
5. Quản lý nhân sự trong khoa, vật tư trang thiết bị của khoa.
6. Phòng bệnh.
7. Hợp tác quốc tế.
III. Tổ chức nhân sự :
Cán bộ trong biên chế: 51
Trong đó: Bác sỹ: 10
Y tá : 33
Y công : 8
IV. Hoạt động chuyên môn:
1. Cơ sở vật chất :
- Khu phòng bệnh bao gồm 30 giường và 01 phòng khám chuyên khoa.
- Khu phòng hành chính, phòng bác sĩ điều trị, điều dưỡng.
- 02 kính hiển vi phẫu thuật với camera, 02 máy điện quang trong mổ,
dụng cụ mổ vi phẫu, 06 máy khoan cắt sọ. 1 dao mổ siêu âm (
CUSA )
- 02 máy tính nối mạng Internet, mạng LAN trong bệnh viện và 01 máy in
Laser.
- Khoa thường xuyên sử dụng các phương tiện hiện đại trong chẩn đoán và
điều trị : chụp cắt lớp vi tính, chụp mạch máu não, cộng
hưởng từ hạt nhân-IRM (BV Hữu nghị),chụp mạch xoá nền-DSA (BV Bạch Mai),
máy tia xạ(Viện K) ....
2. Thành tựu:
- Trong điều kiện trang thiết
bị thiếu, nghiên cứu dùng nước sôi điều trị đau dây thần kinh số 5, trĩ
hậu môn đem lại nhiều thành công, được đăng tải trên nhiều tạp chí trong
và ngoài nước (Liên Xô, Đức, Tiệp Khắc, Hungari).
- Khoa đã mổ thành công chấn thương sọ não, các loại u não. Tất cả các
dị dạng mạch máu não, thông động-tĩnh mạch và các loại u tuỷ, u dây thần
kinh ngoại vi. Cắt hạch giao cảm ngực trên. Nhiều công trình đã được
đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước.
- Mổ u vùng tuyến yên bằng đường qua xoang bướm , mổ u dây VIII bằng
đường qua mê nhĩ, mổ nẹp vis cột sống cổ bằng đường trước bên. Mổ u màng
não vùng rãnh trượt (clivus).
- Mỗi năm có hàng trăm sinh viên, bác sĩ, chuyên khoa I-II, bác sĩ nội
trú, nghiên cứu sinh tới thực tập. Năm học 2000-2001 khoa tham gia đào
tạo 06 cao học (01 nước ngoài), 03 nghiên cứu sinh, 04 chuyên khoa II.
Giáo sư, bác sĩ trong khoa nghiên cứu nhiều đề tài, tham gia nhiều hội
đồng nghiên cứu khoa học.
- Tham gia giúp đỡ nhiều khoa phẫu thuật thần kinh : BV Thanh Nhàn, Bưu
Điện, Viện E, Hữu nghị,... Phối hợp với Viện Tai Mũi Họng Trung ương...
- Hợp tác quốc tế với nhiều nước ASEAN, Pháp, Nhật, úc, Mỹ , Đức , áo
... hàng năm luôn có bác sỹ tham quan, học tập và trao đổi kinh nghiệm
thường xuyên.
- Năm 2000 : điều trị nội trú 3297 bệnh nhân, khám và điều trị ngoại trú
1427 bệnh nhân, mổ 1170 ca ( trung bình 30-40 ca / tuần).
V. Hướng phát triển:
Bệnh viện xây dựng khoa mới với 60 giường ( khu chấn thương sọ não ,
bệnh lý sọ não , tuỷ sống, thần kinh nhi ). Trong đó có 6 giường hậu
phẫu được trang bị hiện đại có khí y tế trung tâm .
Tiêu chuẩn hoá mổ u tuyến yên , u dây VIII, u tuỷ, dị dạng động tĩnh
mạch, chấn thương sọ não nặng , u màng não.
Mổ nội soi não sẽ tiến hành trong năm 2002
Đào tạo bác sỹ chuyên khoa sọ não để giả quyết cấp cứu tại tuyến tỉnh
tiếp tục đào tạo thạc sỹ , nội trú , tiến sỹ.
Trong 2 năm tới, tất cả các bác sỹ trong khoa đều có bằng thạc sỹ trở
lên.
Mở rộng mối quan hệ quốc tế . Tổ chức hội nghị phẫu thuật thần kinh
ASEAN năm 2003.
|