|
Lịch sử phát triển:
Khoa được thành lập từ cuối
năm 1957,thời gian đầu khoa nhận điều trị tất cả các loại bệnh về phẫu
thuật nhi của các tỉnh phía Bắc, các loại bệnh về dị tật bẩm sinh, u
quái, quái thai rất nhiều do ảnh hưởng của chất độc màu da cam .
Khoa là nơi mà các giáo sư, bác sĩ có tên tuổi về phẫu thuật trẻ em đã
từng công tác và trưởng thành, như: BS Hoàng Tích Tộ, cố GS Nguyễn Văn
Đức , cố GS Nguyễn Xuân Thụ, PGS Ngô Đình Mạc, PGS Thái Lan Thư và BS
Phạm Đình Châu.
Khoa là nơi đào tạo nên các BS chuyên ngành ngoại nhi cho các tỉnh từ Đà
nẵng trở ra và cho hai nước bạn Lào và Campuchia anh em.
Các GS, BS đã từng phụ
trách khoa là :
- BS Hoàng Tích Tộ (1957-1960)
- Cố GS Nguyễn Xuân Thụ (1960-1968 và 1973-1974)
- Cố GS Nguyễn Văn Đức (1968-1973)
- PGS Thái Lan Thư (1975-1976, 1984-1995)
- PGS Ngô Đình Mạc (1977-1983)
- ThS Lợi Hồng Sơn (1995 - 2005)
- GS.TS Trần Ngọc Bích (2005 -đến nay)
Các y tá trưởng đã và đang
công tác :
- Y tá Nhàn Trước 1968
- Y tá Nguyễn Thị Thọ (1968-1970)
- Y tá Nguyễn Thị Mùi (1970-1974)
- Y tá Phan Tử Hạt (1974-1981)
- Y tá Nguyễn Thị Hồng Vân (1982 đến nay)
II. Chức năng nhiệm vụ :
1. Khám chữa bệnh:
Tất cả các loại bệnh phẫu thuật nhi từ mới đẻ đến 15 tuổi, tập trung chủ
yếu vào các bệnh bẩm sinh cũng như mắc phải như các dị tật về đường tiêu
hoá, các loại khối u...các loại bệnh như : teo thực quản, teo ruột, teo
đường mật bẩm sinh, các loại tắc ruột sơ sinh, phình to đại tràng bẩm
sinh (Hirschprung), các dị tật của đường tiết niệu như thận niệu quản
đôi lạc chỗ gây đái rỉ, hội chứng chỗ nối bể thận niệu quản, túi sa niệu
quản trong bàng quang, dị tật lỗ đái lệch thấp (Hypospadias), các bệnh ở
vùng bẹn bìu như thoát vị bẹn, tinh hoàn lạc chỗ, nước màng tinh, nang
nước thừng tinh... Khoa hiện đang tiếp nhận nhiều bệnh nhân cấp cứu như
lồng ruột cấp và bán cấp, viêm ruột thừa ở trẻ em, các bệnh lý về đường
mật, đường tiêu hoá, các chấn thương bụng hoặc đa chấn thương và những
trường hợp viêm phúc mạc nặng, tắc ruột nặng mà các tỉnh đã mổ nhưng
chưa giải quyết được....
2. Đào tạo và nghiên cứu khoa học:
Khoa là nơi tham gia đào tạo các lớp sinh viên, các bác sĩ chuyên khoa
cấp I, cấp II và cao học từ Đà Nẵng trở ra và hai nước Lào, Cammbodia
v.v...tiến hành nghiên cứu các đè tài khoa học về chuyên ngành ngoại nhi
như đánh giá lại kết quả các phương pháp mổ bệnh phình to đại tràng bẩm
sinh, mổ hypospadias...
3. Chỉ đạo tuyến:
Cùng với Phòng Chỉ đạo tuyến bệnh viện thông báo thường xuyên về những
sai sót kỹ thuật của tuyến dưới.
4. Quản lý khoa phòng về mọi mặt nhất là về chuyên môn cũng như vấn đề
hạch toán kinh tế trong y tế .
5. Hợp tác với các đồng nghiệp quốc tế trao đổi và phổ biến một số kinh
nghiệm trong lĩnh vực phẫu thuật nhi của Pháp, Mỹ,....
III. Tổ chức nhân sự :
Nhân lực :
Tổng số : 18 ( TS : 1, ThS : 2, BS : 2. Y tá điều dưỡng : 11. Hộ lý : 2)
IV. Hoạt động chuyên môn:
1. Cơ sở vật chất:
- Giường bệnh nhân : 30 ( Hậu phẫu : 12. Giường điều trị : 18 )
- Có 1 phòng vui chơi cho các cháu : Có nhiều phương tiện và đồ chơi do
Ban Giám đốc bệnh viện và các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước tài
trợ.
- Có các phòng chức năng khác như : Phòng giảng dạy cho sinh viên và các
bác sĩ về học (CK I, CKII, Cao học...) , Văn phòng khoa ....
2. Những thành tựu:
- Khoa đã đóng góp cho ngành ngoại nhi những thành tích đáng kể :
- Áp dụng thành công phương pháp tháo lồng ruột bằng hơi cho bệnh nhân
lồng ruột cấp tính ở tuổi còn bú mẹ và tránh được hàng ngàn ca mổ không
cần thiết ( Ngô Đình Mạc và cộng sự , 1971-1976).
- Hạ thấp tỷ lệ tử vong trong mổ teo hậu môn trực tràng, bằng phương
pháp làm hậu môn nhân tạo thì 1 lúc mới đẻ, sau 6 tháng mổ thì 2 hạ bóng
trực tràng xuống tầng sinh môn (Thái Lan Thư, Lợi Hồng Sơn và cộng
sự,1978- 1983). - áp dụng phương pháp Soave vào điều tri bệnh phình to
đại tràng bẩm sinh (bệnh Hirschprung), đã mổ gần 800 ca có kết quả khá
tốt (Nguyễn Trinh Cơ, Phạm Đình Châu và cộng sự, 1978-1990).
- Áp dụng phương pháp tẩy giun của khoa nhi bệnh viện Việt Đức, đã tránh
được cho hàng trăm ca mổ tắc ruột, bán tắc ruột do giun và giun chui ống
mật ở trẻ em.
- Đi sâu nghiên cứu về bệnh loét dạ dày-tá tràng ở trẻ em, kể cả các
phương pháp điều trị bằng phẫu thuật (Lợi Hồng Sơn và cộng sự -1994).
V. Hướng phát triển:
Thực hiện:
Mổ nội soi ổ bụng cho một số bệnh như Megacolon, và một số bệnh khác
Tham gia ghép gan, thận của bệnh viện.
Phát triển phẫu thuật và chăm sóc sau mổ bệnh nhân sơ sinh .
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và trong nước.
Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều trị bệnh
nhân.
|