|
I.
Lịch sử phát triển:
Khoa Giải phẫu bệnh được thành lập ngay sau khi tiếp quản Bệnh viện Phủ
Doãn gồm hai cơ sở : Phòng vi thể và khu đại thể. Phòng vi thể đặt tại
Viện Radium.Thời gian này có sự giúp đỡ của Giáo sư Vũ Công Hoè Chủ
nhiệm Bộ môn giải phẫu bệnh và bác sĩ Trương Cam Cống Chủ nhiệm bộ môn
mô học của Trường Đại học y khoa Hà Nội. Đầu năm 1958, phòng vi thể được
chuyển về Bệnh viện Việt Đức.
Khu Đại thể vẫn đặt tại khu Đại thể cũ của Bệnh viện Phủ Doãn.
Các trưởng khoa :
GS Nguyễn Như Bằng - Chủ tịch Hội Giải phẫu bệnh - Y pháp Việt Nam -
Thầy thuốc Nhân Dân
PGS.TS. Nguyễn Phúc Cương, Phó Chủ tịch Hội GPB - Y pháp Việt Nam - Thầy
thuốc Ưu tú
BSCK II. Phạm Kim Bình (hiện
nay)
Các phó trưởng khoa :
BSCK II. Phạm Kim Bình
II.
Chức năng, nhiệm vụ:
1. Đại thể:
Tiếp nhận, bảo quản và mổ khám nghiệm tử thi, phục vụ tang lễ theo qui
định.
2. Vi thể:
Tiếp nhận sinh thiết, tử thiết và bệnh phẩm phẫu thuật để nhận xét đại
thể, phẫu tích các bệnh phẩm sinh thiết và tử thiết.
Làm tiêu bản và chẩn đoán Giải phẫu bệnh.
Chẩn đoán tức thì bằng cắt lạnh.
Là cơ sở phẫu tích, giải phẫu phục vụ các công trình gan, tim của cố GS
Tôn Thất Tùng và các giáo sư, bác sĩ khác. Đóng góp quan trọng cho công
trình mổ cắt gan khô của cố GS Tôn Thất Tùng
Làm ảnh vi thể, đại thể, slide và lưu trữ (Musée) cho bệnh viện.
3. Công tác Y- pháp:
Khoa Giải phẫu bệnh-Bệnh viện Việt Đức là cơ sở sớm nhất hoạt động y
pháp do BS Trương Cam Cống thành lập, sau này là GS Nguyễn Như Bằng kế
tục cùng với Bộ môn Y pháp làm cơ sở chủ yếu để hình thành Tổ chức Giám
định y pháp trung ương và hiện nay là Viện Y pháp trung ương.
Được Bộ giao thêm nhiệm vụ cấp giấy chứng thương và các văn bản phục
vụ luật pháp.
4. Nghiên cứu khoa học:
Chủ trì và tham gia các đề tài từ bệnh viện đến cấp Bộ (giải phẫu gan,
tim, ung thư gan, bệnh gan vùng nhiệt đới sỏi mật, ghép tạng thực
nghiệm,...)
Nghiên cứu áp dụng những kỹ thuật hiện đại và chẩn đoán Giải phẫu
bệnh : hoá mô, hoá mô miễn dịch,...
5. Đào tạo và giảng dạy:
Là cơ sở đào tạo thực hành Giải phẫu bệnh-Y pháp cho các sinh viên, bác
sĩ, bác sĩ chuyên khoa I-II, thạc sĩ, tiến sĩ
Tập huấn cho các giám định viên y pháp của các địa phương.
Tham gia các Hội đồng chấm luận án thạc sĩ, tiến sĩ, chuyên khoa II,
tiến sĩ.
Hướng dẫn nghiên cứu sinh và cao học.
Hội chẩn vi thể với các bệnh viên Hà nội và địa phương.
III.
Tổ chức nhân sự :
Cơ cấu tổ chức:
Tổng số nhân viên : 18
Trong đó : 1 P. Giáo sư, 1 Tiến sĩ, 2 Bác sỹ chuyên khoa II, 2 Bác sỹ
chuyên khoa I, 2 Bác sỹ, 5 Kỹ thuật viên, 7 hộ lý và y công.
IV.
Hoạt động chyên môn:
Cơ sở vật chất:
Trang thiết bị hiện đại: Máy cắt lạnh, máy chuyển bệnh phẩm tự động, máy
đúc khối nến tự động, máy vi tính, máy ảnh chụp đại thể và vi thể, kính
hiển vi có màn hình và nhiều đầu quan sát phục vụ kỹ thuật mới.
Kết quả hoạt động chuyên môn:
Vi thể : Xét nghiệm và
chẩn đoán mô bệnh học với 6.000 phiếu chẩn đoán giải phẫu bệnh / năm.
Xét nghiệm sinh thiết tức thì 200 ca / năm.
Hoàn thiện các kỹ thuật mới, hoá mô và hoá mô miễn dịch đưa vào hoạt
động thường quy.
Chẩn đoán, phục vụ cho công tác việc ghép tạng (thận, gan,...).
Đại thể : Tủ lạnh bảo
quản tử thi chất lượng cao.
Nhà mổ tử thi mới xây dựng và trang bị. Đảm bảo tiếp nhận, hoàn tất thủ
tục cho tất cả các trường hợp tử vong trong viện.
Công tác y pháp : Tham
gia giải quyết 30 vụ án lớn. Giám định hơn 40.000 ca trong đó bao gồm :
mổ tử thi và khai quật.
Công tác khám và cấp giấy
chứng thương : Hàng năm tiếp nhận và giải quyết hơn 1.200 ca.
Nghiên cứu khoa học và giảng dạy : có 152 công trình nghiên cứu khoa học
được đăng báo, tạp chí trong và ngoài nước.
Giảng dạy thường xuyên cho sinh viên, bác sỹ và các đối tượng sau đại
học.
Thường xuyên tiến hành nghiên cứu khoa học, chụp ảnh và phẫu tích các
bệnh phẩm.
Hội chẩn và giúp đỡ các bệnh viện bạn.
Hợp tác quốc tế : Quan hệ hợp tác với rất nhiều đồng nghiệp và tổ chức ở
nhiều nước : Pháp, Mỹ, Đức,Thụy sĩ, Hà Lan, Đài loan,...
V.
Hướng phát triển:
Tiếp tục nâng cao chất lượng tiêu bản và chất lượng chẩn đoán.
Sử dụng và bảo quản tốt các máy móc cho các khâu : cố định, đúc, cắt
bệnh phẩm và nhuộm tiêu bản để có chẩn đoán giải phẫu bệnh nhanh chóng
và chính xác.
Phát triển sinh thiết tức thì, đưa phương pháp hoá mô miễn dịch vào chẩn
đoán giải phẫu bệnh thường quy.
Chẩn đoán giải phẫu bệnh trong ghép tạng (thận, gan, ...)
Mở rộng phục vụ tang lễ (từ năm 2002).
Tiếp tục mở rộng hợp tác quan hệ với Cộng hoà Pháp (Bệnh viện Dupuytren
tại Limoge) và các nước khác để trao đổi và học hỏi kinh nghiệm
|