|
I.Lịch sử phát triển
Năm 1954 hoà bình lập lại ở Việt Nam, thủ đô Hà Nội được giải phóng,
bệnh viện Phủ Doãn (nay là bệnh viện Hữu nghị Việt Đức) trong đó có khoa
X quang được tiếp quản.
Bác sỹ Hoàng Sử là chủ nhiệm khoa đầu tiên, lúc đó cả khoa chỉ có 2 máy
X quang cũ của Pháp, chỉ làm được các chẩn đoán với những kỹ thuật thông
thường như : chiếu phổi, chụp xương chân tay, cột sống, chụp bụng, chụp
hệ tiết niệu,...
Năm 1956 Chính phủ CHDC Đức giúp đỡ trang bị, nâng cấp bệnh viện lần đầu
tiên, có 1 số chuyên gia Đức sang cùng làm. Khoa được trang bị thêm máy
X quang TUR D500 và TUR D1000 của CHDC Đức.
Năm 1974 Chính phủ CHDC Đức giúp đỡ cải tạo nâng cấp khoa Xquang lần II,
trang bị thêm 2 máy X quang tăng sáng truyền hìnhTUR D700 và TUR D1000.
Về
hoạt động chuyên môn:
Thời gian này có tiến hành chụp và chẩn đoán X quang không chuẩn bị và
có chuẩn bị như:
- Chiếu và chụp phổi
- Chụp sọ não với các tư thế
- Chụp cột sống và các xương
- Chụp bụng, chụp hệ tiết niệu
- Chụp ống tiêu hoá : thực quản, dạ dày, ruột non, đại tràng
- Chụp thận có tiêm thuốc cản quang (UIV)
- Chụp mạch máu.
- Myelography
- Năm 1974 lần đầu tiên đã
tiến hành điều trị bằng điện quang can thiệp : tiến hành nút động mạch
phế quản thành công để điều trị ho ra máu (do BS Nguyễn Đình Tuấn và BS
Hoàng Xương tiến hành).
- Năm 1986 Chính phủ CHDC Đức trang bị 1 máy X quang hiện đại TUR D800
có màn tăng sáng truyền hình.
- Năm 1989 trang bị máy siêu âm đầu tiên Kontron của Pháp, từ đó bắt đầu
tiến hành khám và chẩn đoán siêu âm.
- Năm 1992 : Bộ phận nội soi tiêu hoá chẩn đoán và can thiệp được sáp
nhập vào khoa chẩn đoán hình ảnh.
- Năm 1995 được Nhà nước trang bị máy chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc
(CT-Scanner) prospeedS của hãng GE Mỹ, bắt đầu tiến hành chẩn đoán
CT-Scanner thường quy và cấp cứu.
Các thế hệ Trưởng khoa:
GS - Bác sĩ Hoàng Sử
Bác sĩ Nguyễn Văn Hanh
PGS - Bác sĩ Vũ Long
GS - TSKH.Nguyễn Đình Tuấn
PGS.Ts.Nguyễn Duy Huề- Hiện
nay
Các phó trưởng khoa:
PGS.Ts.Nguyễn Duy Huề
Ts.Dư Đức Thiện - Hiện nay
Ts.Bùi Văn Lệnh -Từ 2007
II. Nhiệm vụ, chức năng:
Khoa điện quang Bệnh viện Việt Đức, nay là khoa chẩn đoán hình ảnh có
các nhiệm vụ sau đây:
1. Thực hiện chẩn đoán hình ảnh cho các chuyên khoa của bệnh viện: thần
kinh, tim mạch, tiêu hoá, tiết niệu, chấn thương,.. chẩn đoán cho các
bệnh nhân thường quy và cấp cứu; bệnh nhân nội trú và bệnh nhân ngoại
trú trong phục vụ cho điều trị phẫu thuật.
2. Tiến hành điều trị bằng điện quang can thiệp (nút mạch, nong mạch) và
nội soi can thiệp.
3. Đào tạo các cán bộ cao cấp, trung cấp chuyên ngành X quang như: Giảng
dạy sinh viên, các bác sĩ chuyên khoa (chuyên khoa định hướng, CK 1, CK
2), các lớp bác sĩ bổ túc dài hạn, ngắn hạn... các kỹ thuật viên thạc sĩ
, tiến sĩ học tập và làm đề tài khoa học.
4. Nghiên cứu khoa học:
- Tham gia thường xuyên làm các đề tài khoa học, đề tài báo cáo trong
sinh hoạt khoa học tại bệnh viện, tại hội chuyên khoa, các đại hội
chuyên ngành.
- Có nhiều bài đăng trong các tạp chí khoa học của ngành.
- Tiến hành gặp gỡ, trao đổi, hội thảo với các Giáo sư nước ngoài như
Pháp, Đức, Mỹ...
III. Tổ chức nhân sự :
Khoa gồm 29 người trong đó có
: 1 PGS.TSKH, 2 TS chuyên ngành, 3 Thạc sỹ,
3 Bác sỹ, 18 Kỹ thuật viên và y tá, 2 hộ lý.
A. Khoa Chẩn đoán hình ảnh
Bệnh viện Việt Đức có các chuyên ngành sau như sau:
- Điện quang thường quy
- Siêu âm thường và siêu âm doppler màu
- Cắt lớp vi tính (CT – Scanner)
- Chụp mạch chẩn đoán và điều trị bằng điện quang can thiệp
- Nội soi chẩn đoán và điều trị can thiệp.
1. Điện quang thường quy chụp tất cả các bộ phận phục vụ
cho các chuyên khoa : tiết niệu, tim mạch, hô hấp, xương. Chụp không
chuẩn bị và có chuẩn bị. Mỗi ngày chụp trên 100 bệnh nhân với số
lượng phim từ 200-300 phim/ngày.
2.
Chụp mạch chẩn đoán và điều trị bằng điện quang can thiệp là
2 bộ phận đặc biệt:
- Chụp mạch chẩn đoán : chụp thường quy và chụp cấp cứu các trường hợp
tổn thương mạch máu do chấn thương và bệnh lý giúp điều trị phẫu thuật
kịp thời. Chụp mạch từ 5-10 trường hợp/tuần cho tất cả các khoa trong
bệnh viện và từ các bệnh viện khác gửi đến.
- Điều trị bằng nút động mạch : Các trường hợp chảy máu, ho ra máu, chảy
máu đường mật, chảy máu tiêu hoá, tiết niệu đã điều trị có kết quả tránh
cho bệnh nhân khỏi phải mổ và cứu sống được nhiều người.
Chụp mạch chẩn đoán và điều trị bằng điện quang can thiệp ở khoa chẩn
đoán hình ảnh-Bệnh viện Việt Đức đã trở thành một địa chỉ đáng tin cậy.
3.
Nội soi chẩn đoán và điều trị can thiệp: Đã chẩn đoán nội soi
tiêu hoá, gan mật cho nhiều bệnh nhân. Hàng ngày tiến hành điều trị can
thiệp như : gắp giun để điều trị giun chui ống mật, ống tuỵ; tiêm xơ các
đám dãn tĩnh mạch để cầm máu, gắp dị vật do hóc đường tiêu hoá, hô hấp,
mở thông dạ dày, đã điều trị khỏi cho nhiều bệnh nhân.
4.
Siêu âm: Gồm siêu âm chẩn đoán thường quy và siêu âm Doppler
màu, mỗi ngày thực hiện trên 50 bệnh nhân .
5.
Chụp cắt lớp vi tính (CT-Scanner) để chẩn đoán cho tất cả các
chuyên khoa, trong đó đặc biệt là chẩn đoán sọ não (chiếm 70%). đã phát
hiện sớm và chính xác cho nhiều trường hợp chấn thương, phần lớn là tai
nạn giao thông, giúp phẫu thuật kịp thời cứu sống người bệnh.
Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc và tái tạo hình ảnh không gian 3
chiều (3D) đã giúp phát hiện các tổn thương chính xác trong đó có các
tổn thương mạch như phồng, vỡ động mạch chủ.
B. Cơ sở vật chất:
Khoa Chẩn đoán hình ảnh hiện đã được trang bị:
- 6 máy X quang, trong đó 3 máy có tăng sáng truyền hình, 2 máy chụp số
hóa .
- 6 máy siêu âm, trong đó 1 siêu âm mầu Doppler. 1 máy siêu âm màu 3D.
- 3 máy CT-Scanner có xoắn ốc, prospeedS của hãng GE (Mỹ) và Siemens (Đức)
- 1 Máy Cộng hưởng từ (Đức), 1
máy chụp mach (Angio- Nhật)]
V. Hướng phát triển:
Sau khi được bệnh viện xây dựng một khu chẩn đoán hình ảnh mới, khoa
chẩn đoán hình ảnh sẽ gồm các khu vực chẩn đoán:
- Điện quang thường quy.
- Siêu âm đen trắng và siêu âm màu Doppler.
- Chụp cắt lớp vi tính.
- Chụp mạch chẩn đoán và điều trị.
- Chẩn đoán bằng máy cộng hưởng từ.
- Nội soi chẩn đoán và can thiệp.
Sẽ phát triển mạnh hơn trong nghiên cứu:
- Chụp mạch để chẩn đoán.
- Điều trị bằng điện quang can thiệp : nút mạch, nong mạch để điều trị.
- Điều trị bằng nội soi can thiệp.
- Phát triển hệ thống thông tin chẩn đoán trên mạng : nối mạng trong
khoa với các bệnh viện trong nước và một số bệnh viện trên thế giới.
|